Có phải bạn đang phân vân không biết đi đâu vào dịp tết này đúng không ? Vậy hãy cùng trải nghiệm văn hóa Hà Nội tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám cùng F-Vivu nhé ! Với slogan " Phụng sự từ trái tim " thì mọi khách hàng đến với F-Vivu sẽ có được những chuyến đi với giá cả thật hợp lí và thật đáng nhớ. Bạn còn chờ đợi gì nữa cùng F-Vivu đi khắp Hà Nội nào
Skincarema là thương hiệu mỹ phẩm thiên nhiên hàng đầu, mang
đến những sản phẩm dưỡng da an toàn và hiệu quả cho người tiêu dùng. Với sứ mệnh
mang đến vẻ đẹp tự nhiên và làn da khỏe mạnh, Skincarema luôn tích cực nghiên cứu
và áp dụng những công nghệ hiện đại trong quy trình sản xuất.
Thành phần các sản phẩm của Skincarema được chiết xuất 100% từ thiên nhiên,
không chứa hóa chất độc hại, đảm bảo sự an toàn và lành tính cho mọ moi làn da.
Từ các loại tinh dầu thiên nhiên, chiết xuất thào mộc đến các dạng mặt nạ,
serum và kem dưỡng, mỗi sản phẩm đều được sàng tạo để đáp ứng nhu cầu chăm sóc
da toàn diện.
Skincarema cam kết:
Nguyên
liệu hoàn toàn tự nhiên, không chất bảo quản hay hóa chất gây hại.
Sản phẩm
được nghiên cứu và phát triển bởi đội ngũ chuyên gia da liễu.
Quy
trình sản xuất đạt chuẩn an toàn và môi trường.
Hãy để Skincarema đồng hành cùng bạn trên hành trình tìm kiếm
vẻ đẹp tự nhiên và làn da khỏe mạnh!
Skincarema là thương hiệu mỹ phẩm thiên nhiên hàng đầu, mang
đến những sản phẩm dưỡng da an toàn và hiệu quả cho người tiêu dùng. Với sứ mệnh
mang đến vẻ đẹp tự nhiên và làn da khỏe mạnh, Skincarema luôn tích cực nghiên cứu
và áp dụng những công nghệ hiện đại trong quy trình sản xuất.
Thành phần các sản phẩm của Skincarema được chiết xuất 100% từ thiên nhiên,
không chứa hóa chất độc hại, đảm bảo sự an toàn và lành tính cho mọ moi làn da.
Từ các loại tinh dầu thiên nhiên, chiết xuất thào mộc đến các dạng mặt nạ,
serum và kem dưỡng, mỗi sản phẩm đều được sàng tạo để đáp ứng nhu cầu chăm sóc
da toàn diện.
Skincarema cam kết:
Nguyên
liệu hoàn toàn tự nhiên, không chất bảo quản hay hóa chất gây hại.
Sản phẩm
được nghiên cứu và phát triển bởi đội ngũ chuyên gia da liễu.
Quy
trình sản xuất đạt chuẩn an toàn và môi trường.
Hãy để Skincarema đồng hành cùng bạn trên hành trình tìm kiếm
vẻ đẹp tự nhiên và làn da khỏe mạnh!
Trong mọi gia đình, nồi áp suất điện đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong việc nấu ăn, với tính năng tiện lợi và tốc độ nấu ưu việt. Tuy nhiên, không phải tất cả chị em nội trợ đều am hiểu việc sử dụng nó một cách đúng cách. Trong nhiều trường hợp, việc sử dụng sai cách có thể gây hỏng nồi áp suất và thậm chí là gây nguy hiểm cho người sử dụng. Vậy, để đảm bảo an toàn và hiệu quả, bạn cần tránh những điều gì khi sử dụng nồi áp suất? Ngay sau đây, hãy cùng Gia dụng Casaware tìm cầu trả lời trong bài viết dưới đây nhé!
1. Vệ sinh nồi mới mua không đúng cách
Rất nhiều gia đình thường ít chú ý đến vấn đề này, chỉ rửa và lau chùi nồi áp suất bằng nước. Tuy nhiên, đối với nồi mới, cách này không đảm bảo nồi sạch hoàn toàn để có thể sử dụng. Sau khi mua nồi áp suất mới về, bạn nên thực hiện quy trình sau để đảm bảo vệ sinh trước khi sử dụng: Đổ nước vào khoảng 2/3 dung tích của nồi, rồi đun sôi, sau đó xả hết hơi ra ngoài và để nguội. Tiếp theo, rửa sạch nồi với nước. Bằng cách này, bạn sẽ loại bỏ hết mùi nhựa và loại bỏ các tạp chất, bụi bẩn bám trong nồi.
2. Cho quá nhiều thực phẩm vào nồi
Nồi áp suất lớn có dung lớn giúp bạn dễ dàng nấu nướng, nhưng không thế mà đổ quá nhiều thức ăn vào. Bởi khi thức ăn sôi lên sẽ dễ tràn ra ngoài, làm tắc van xả áp, và có thể gây ra các tình huống nguy hiểm như cháy nổ hoặc làm dơ nồi, khó vệ sinh. Lượng thức ăn tốt nhất có thể cho vào nồi đối với các loại thịt cá là 3/4 dung tích nồi, nấu cơm hoặc cháo là 2/3 dung tích nồi, các món súp, hầm, có bộ lòng thì khoảng 1/2 dung tích nồi. Tránh cho quá nhiều hoặc quá ít thực phẩm vào nồi, vì cả hai đều có thể gây hư hại cho nồi áp suất của bạn.
3. Không đóng chặt nắp nồi và kiểm tra van xả áp
Trước khi bắt đầu cắm phích điện và bật chế độ nấu, hãy đảm bảo rằng nắp của nồi đã được đóng kín và van xả áp đã được đóng chặt. Áp suất bên trong nồi khi nấu là rất lớn do thức ăn bắt đầu sôi và tạo ra hơi nước. Vì vậy bạn cần phải thận trọng khi sử dụng.
4. Không kiểm tra nồi trước khi nấu
5. Bật nắp nồi khi chưa giảm áp suất
6. Cài đặt thời gian nấu không phù hợp
7. Sử dụng nguồn điện không ổn định
8. Không vệ sinh nồi thường xuyên
9. Nấu thực phẩm không thích hợp
10. Mở van xả áp bằng tay
11. Dùng lòng nồi để đun trên bếp ga
12. Sử dụng nồi áp suất kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ
13. Cho quá nhiều nước
Trên đây là những sai lầm mà bạn cần tuyệt đối tránh khi sử dụng nồi áp suất điện. Sử dụng nó đúng cách không chỉ giúp nồi hoạt động hiệu quả và gia tăng tuổi thọ, mà còn đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Hãy lưu ý các hướng dẫn này để đảm bảo bạn sử dụng nồi áp suất một cách an toàn nhất nhé!
Theo dõi những video mới nhất của gia dụng Casaware
Văn Miếu không chỉ là một di tích lịch sử văn hóa mà còn là nơi tập trung nhiều sĩ tử, học sinh đến đây cầu việc thi cử, học hành thuận lợi, hanh thông. Trong bài viết này, sẽ giới thiệu cho bạn những thông tin tổng hợp về Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
Lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám
Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu để thờ phụng và thúc đẩy, bồi dưỡng Nho học. Đây là nơi thờ phụng những bậc thánh hiền như Khổng Tử, Chu Công… Năm 1076, Lý Nhân Tông đã lập ra trường Quốc Tử Giám bên cạnh Văn Miếu. Đây được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ tuyển sinh con em quý tộc và vua chúa.
Năm 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc học viện, mở rộng và thu nhận con cái của những thường dân nhưng có học lực xuất sắc để đến học. Chức năng của trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng là nơi thờ tự.
Đến năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Tam trường đầu tiên trên đất nước. Trong kỳ thi này, 10 thí sinh xuất sắc nhất đã được chọn ra. Đầu tiên là Nguyễn Văn Thịnh quê ở làng Đông Cứu (Bắc Ninh). Sau này, ông trở thành Thái sư.
Vào thời nhà Hậu Lê, Lê Thái Tổ vừa lên ngôi đã rất quan tâm đến giáo dục, đã tuyển chọn những học trò xuất sắc trên khắp nơi để vào Kinh đô và được thầy giỏi dạy dỗ. Đặc biệt, nhà Lê còn khuyến khích thành lập trường, lớp ở nhiều nơi để nâng cao trình độ dân trí cho người dân.
Hiện nay, Văn Miếu – Quốc Tử Giám là nơi Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức báo cáo thành tích văn học và bình luận thơ hay hàng năm. Đặc biệt, cứ sau khi tốt nghiệp đại học, những thủ khoa được đề xuất của trường sẽ đến đây để Chủ tịch UBND Tp.Hà Nội trao bằng khen và tham quan nhiều sự kiện văn hóa được tổ chức.
Văn Miếu Quốc Tử Giám (Văn Miếu) là một trong những địa điểm quan trọng tại Việt Nam, thường được xem là biểu tượng của giáo dục và văn hóa. Dưới đây là một số điều mà chỉ Văn Miếu Quốc Tử Giám mới có:
Khối kiến trúc độc đáo: Văn Miếu Quốc Tử Giám thường có kiến trúc độc đáo với các công trình kiến trúc truyền thống của Việt Nam, bao gồm:
- cổng chính(cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn). sảnh Thiên Quang Tự, sảnh Đại Thành Môn, và nhiều điện khác.
Hinh ảnh cổng chính Văn Miếu môn
1. Đại trung môn: Từ cổng chính Văn Miếu môn, vào không gian thứ nhất gọi là khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung môn. Ngang hàng với Đại Trung môn bên trái có Thành Đức môn, bên phải có Đạt Tài môn. Theo văn bản của ông Đỗ Văn Ninh trước đây hai cổng tả môn và hữu môn ở phía trước và bằng Đại Trung môn, Thánh Đức môn và Đại tài môn ở phía sau. Hiện nay hai bên là không gian cây xanh và thảm cỏ Bức tường ngang nối ba cửa vươn dài ra hai bên tới tận tường vây dọc bên ngoài. Hai bên tả hữu của cả khu Văn Miếu, cùng với tường ngang nơi Văn Miếu môn tạo thành một khu hình gần vuông có tường vây khép kín ra vào bằng Văn Miếu môn. Trong khu vực này trồng cây bóng mát gần kín mặt bằng. Hai chiếc hồ chữ nhật nằm dài
Hình ảnh Đại Trung môn
sát theo chiều dọc bên ngoài. Cảnh này gây nên cảm giác tĩnh mịch, thanh nhã của nơi "văn vật sở đô". Cửa Đại Trung môn làm kiểu 3 gian, xây trên nền gạch cao, có mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột hiên trước và sau, ở giữa là hàng cột chống nóc. Gian giữa cổng treo một tấm biển nhỏ đề 3 chữ sơn then Đại Trung môn.
Con đường thẳng từ Văn Miếu môn tới Đại Trung môn lại vươn tiếp thẳng tới Khuê Văn Các. Từ hai cửa Đạt Tài và Thành Đức ở hai bên cửa Đại Trung, hai con đường nhỏ hơn song song chạy thẳng với con đường trục giữa, chia khu vực thứ hai này thành 4 dải khá cân bằng. Hai hồ nước được đào ở vị trí tương tự như hai hồ nước ở khu vực thứ nhất. Việc lặp lại một khu vực chỉ có cây có cỏ, việc làm thêm dãy tường ngăn và làm thêm lớp cửa ra vào, được các nhà kiến trúc cho là rất thành công trong ý đồ tạo nên cảnh thâm nghiêm, tĩnh mịch của khu vực kiến trúc.
2. Đền thờ Khổng Tử: Trong Văn Miếu, có đền thờ Khổng Tử, nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc, người đã đặt nền móng cho học thuật và giáo dục. Đây là một đặc điểm quan trọng của Văn Miếu.
Hình ảnh tượng thờ Khổng tử tại điện thành
3. Bia tiến sĩ: Văn Miếu là nơi lưu giữ những bảng đá (bia tiến sĩ) bia đá là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, được điêu khắc tinh xảo và mang ý nghĩa tâm linh to lớn. 82 bia tiến sĩ được dựng trên lưng của 82 con rùa bằng đá xanh ghi nhận và vinh danh 82 thủ khoa trong các khoa cử của các triều đại phong kiến Việt Nam ngày xưa ghi tên của những người đã đỗ kỳ thi Hội ngô, điều này thể hiện sự tôn trọng đối với tri thức và học vấn.
Hình ảnh bia tiến sĩ
4. Vườn cây cổ thụ: Văn Miếu thường có các vườn cây cổ thụ, tượng trưng cho sự bền vững và liên tục của tri thức và giáo dục.
Hình ảnh cây bồ đề cổ thụ gần 300 năm tuổi ở khu nhập đạo, có chiều cao hơn 23m, cành lá xum xuê tỏa bóng mát khắp 1 vùng
5. Khu vực trưng bày sách cổ: Một số Văn Miếu còn giữ lại các tư liệu văn bản quý hiếm, sách cổ, thư tịch để thể hiện sự lưu giữ và tôn trọng với di sản văn hóa.
Những tư liệu quý về Quốc Tử Giam
6. Di tích lịch sử và văn hóa: Văn Miếu có nhiều di tích lịch sử và văn hóa quan trọng, như bảo tàng, đền thờ các danh nhân văn hóa, tượng đài .....ww
Các lễ hội truyền thống: Văn Miếu thường là nơi tổ chức các lễ hội truyền thống, như Lễ hội Khai giảng, để tôn vinh giáo sư, học giả và học trò.
Hình ảnh trìn diễn áo dài ở Văn Miếu
Ngoài ra, Văn Miếu Quốc Tử Giám còn có nhiều công trình kiến trúc khác như: Đại Thành Môn, Đại Bái Đường, Thượng Cung, Quốc Tử Giám,... Tất cả các công trình này đều mang đậm giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật.
Những đặc điểm này khiến Văn Miếu Quốc Tử Giám trở thành một địa điểm quan trọng không chỉ trong việc gìn giữ di sản văn hóa mà còn là biểu tượng của giáo dục và tri thức trong xã hội Việt Nam.
Với lợi thế có điểm đến quen thuộc, có không gian và khối lượng tư liệu lớn, Tour Đêm "Tinh hoa Đạo Học" vừa ra mắt nhưng rất được quan tâm, tổ chức 3 lần mỗi tuần vào Thứ Tư, Thứ Bảy và Chủ Nhật.
“Học ăn học nói, học gói học mở,” “Học thầy chẳng tày học bạn,” “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”... Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam có nhiều ca dao, tục ngữ và thành ngữ về sự học đến vậy. Từ xưa, người Việt đã rất chú trọng việc học hành. Đến ngày nay, học sinh, sinh viên trước ngày thi thường đi xin cầu tại chùa chiền, các điểm đến linh thiêng gắn liền với ước vọng đỗ đạt.
Trong xu hướng du lịch đêm tại Hà Nội lên ngôi, thông tin Di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám tổ chức chương trình trải nghiệm đêm (tour đêm) đã nhận được rất nhiều sự quan tâm.
Với chủ đề “Tinh hoa Đạo Học,” Tour Đêm Văn Miếu-Quốc Tử Giám khai thác những câu chuyện nổi bật tại di tích này, tái hiện không gian, tầm quan trọng của việc học với thế hệ cha ông. Tận dụng lợi thế về khối lượng tư liệu, câu chuyện dày đặc, Tour Đêm “Tinh hoa Đạo Học” bố trí hơn 15 chặng dừng để thuyết minh dọc theo 5 không gian: Khu Nhập đạo, Khu Thành đạt, hồ Thiên Quang, sân Đại bái và Khu Thái Học. Đây là lúc người nghe được kể chuyện cá chép vượt vũ môn-cá chép hóa rồng, được lý giải về ánh sao chiếu rọi từ Khuê Văn Các, nghe những tấm bia tiến sỹ kể chuyện khoa thi
Bên cạnh lợi thế về không gian và ánh sáng, một điểm nhấn trong tour là ứng dụng công nghệ chiếu phim 3D mapping lên mặt trước Nhà Tiền Đường; cũng như cho khách tham quan trải nghiệm không gian thực tế ảo để viết thư pháp. Dẫu tour có bố trí một chòi trải nghiệm viết thư pháp trên giấy bút thật, có chuyên gia hướng dẫn, ứng dụng công nghệ này vẫn đặc biệt được đặc biệt quan tâm.
Tour Đêm “Tinh hoa Đạo Học” của Di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám sẽ chính thức mở đón khán giả từ ngày 1/11, trong khung từ 19 giờ đến 22 giờ 30. Tour được tổ chức 3 buổi mỗi tuần vào Thứ Tư, Thứ Bảy và Chủ Nhật với mức vé 199.000 đồng/người./.
Văn Miếu Quốc Tử Giám nằm giữa lòng Hà Nội, đây là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng về lịch sử, văn hóa ở việt Nam. với quần thể kiến trúc đa dạng bao gồm: Hồ Văn Miếu, khu văn miếu môn, khu bia tiến sĩ tạ giếng Thiên Quang, di tích khuê văn các......, Đây cũng chính là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam dành cho các vua chúa thời xưa và đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất nước. Khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở đâu?
Anh 1: cổng Văn Miếu
Văn Miếu
Quốc Tử Giám Hà Nội là một khu di tích lịch sử nổi tiếng, có địa chỉ tại số 58 phố
Quốc Tử Giám, thuộc phường Văn Miếu, quận Đống Đa, TP. Hà Nội.
Văn Miếu nằm ở một vị trí vô cùng đắc địa, khi nơi đây là nằm ngay tại điểm giao thoa giữa bốn
tuyến phố quan trọng tại quận Đống Đa, đó là Nguyễn Thái Học, Tôn Đức Thắng,
Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám cách
Hồ Hoàn Kiếm khoảng 2 – 3 km và nằm ở phía Nam của kinh thành Thăng Long
Khu di tích lịch sử Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng vào thời gian nào?
Di tích lịch sử
văn miếu - quốc Tử Giám được xây dựng vào năm 1070, dưới thời vua Lý
Thánh Tông. Ban đầu, văn miếu được vua cho xây dựng để có nơi thờ cúng các bậc
Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho. Sau này, vua đã biến nơi này thành trường học
của hoàng gia, hoặc con cháu của những vị quan lại trong triều đình nhằm bổ dưỡng nhân tài cho đất nước
Học trò đầu tiên được
theo học tại Văn Miếu, đó là Thái tử Lý Càn Đức, con trai của vua Lý Thánh Tông
cùng với nguyên phi Ỷ Lan. Lúc này Lý Càn Đức tức là thái tử chỉ mới 5 tuổi, nhưng cho đến năm
1072, Lý Thánh Tông qua đời và truyền ngôi lại cho con mình là Lý Càn Đức lên ngôi vua, lấy
niên hiệu là Lý Nhân Tông.
Đến năm 1976, Lý Nhân
Tông cho thành lập Văn Miếu trở thành văn miếu quốc tử giám, biến nơi đây trở
thành ngôi trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Tuy nhiên thời điểm này cũng chỉ
có dòng dõi hoàng tộc hoặc con cháu quan lớn mới có thể theo học tại nơi đây.
Về sau, chức năng của
Quốc Tử Giám ngày càng mở rộng, và trở thành nơi học tập của các dân thường học
giỏi xuất sắc, thi đỗ các kỳ thi do triều đình tổ chức. Quốc Học viện được
thành lập vào năm 1253 bởi vua Trần Thái Tông, đánh dấu sự phát triển của chức
năng đào tạo giáo dục tại Văn Miếu.
Đến đời nhà vua Trần
Minh Tông, Chu Văn An đã được bổ nhiệm làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp, tương
đương với chức hiệu trưởng ngày nay, nhằm dạy kèm trực tiếp cho các hoàng tử.
Tuy nhiên, đến năm 1370, Chu Văn An qua đời. Ông đã được vua Trần Nghệ Tông cho
xây dựng lăng mộ và thờ cúng ngay tại Văn Miếu và được nằm bên cạnh Khổng Tử.
Đến thời Hậu Lê, nho
giáo trở thành cực thịnh và phát triển. Từ sau năm 1442, vua Lê Thánh Tông đã
cho xây dựng bia đá trên lưng rùa cho những người đỗ được bằng tiến sĩ, nhằm
tôn vinh những người này, giúp họ lưu danh sử sách muôn đời. Và cũng tính từ
thời điểm đó, triều đại nhà Lê đã cho tổ chức được 12 khoa thi tiến sĩ, đều đặn
cứ 3 năm 1 lần thi.
Tuy nhiên, đến thời
của vua Lê Hiển Tông đã cho tu sửa lại văn miếu quốc tử giám, biến nơi này trở
thành nơi chuyên đào tạo và giáo dục cao cấp của quan lại triều đình. Đến đời
vua Gia Long, ông đã cho di dời Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám về Huế, ấn
định nơi đây là văn miếu Hà Nội. Còn văn miếu quốc tử giám ở hà nội đổi thành
học đường của phủ Hoài Đức. Đến năm 1947, thực dân Pháp đã nhiều lần cho bắn
phá Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám, làm thiệt hại phần lớn kiến trúc nơi
đây.
Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám được công nhận vào năm nào?
Với những giá trị lịch
sử và văn hóa được lưu giữ hàng ngàn năm tại Văn Miếu, vào ngày 9/3/2010, 82
tấm bia tiến sĩ tại Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám đã được UNESCO chính thức
công nhận và xếp hạng là di sản tư liệu lịch sử của thế giới.
Sơ đồ Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám
Kiến trúc văn miếu quốc tử giám
Mặc dù đã trải qua nhiều biến cố, thăng trầm trong lịch
sử, tuy nhiên cho đến nay, Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám vẫn tự hào giữ lại
được những công trình kiến trúc độc đáo, tái hiện rõ nét văn hóa phong kiến xưa.
Di tích Văn Hồ
Nằm ở phía nam Văn Miếu Quốc Tử Giám là
hồ Minh Đường, hay còn được gọi là Văn Hồ, với diện tích hiện tại là 12,297m2.
Bề mặt hồ có gò Kim Châu, trên gò có Phán Thủy đường, nơi diễn ra các buổi bình
văn thơ của nho sĩ thời xưa. Văn Miếu và hồ Minh Đường được kiến trúc một cách
hài hòa, tạo thành một phần không thể thiếu trong quần thể kiến trúc Văn Miếu
Quốc Tử Giám.
Vào năm 1863, trong kỳ sửa nhà bia Văn Miếu, hồ Minh
Đường cũng được đưa vào tu sửa. Tấm bia đá trên gò Kim Châu đã ghi chép rõ ràng
về sự kiện này. Trong quá trình cải tạo hồ vào năm 1998, các nhà khoa học đã
tìm thấy tấm bia Hoàng Văn hồ bi được soạn năm 1942. Đây được xem là một tài
liệu quý về lịch sử Văn Miếu.
Khu di tích
Văn Miếu Môn
Cổng tam quan, hay Văn Miếu môn, được xây dựng một cách độc đáo
với ba cửa, trong đó cửa giữa được xây 2 tầng, tầng trên có chữ hán (Văn miếu môn). Kiểu dáng kiến
trúc này là một điểm nhấn độc đáo trong nghiên cứu về kiến trúc cổ Việt Nam. Ba
kiến trúc riêng biệt bên ngoài tam quan có vẻ nổi bật, đặc biệt là cửa chính
giữa với kiểu dáng ấn tượng, với tầng dưới to và tầng trên nhỏ chồng lên giữa
tầng dưới.Ở phía trước cổng tam quan của Văn Miếu có tứ trụ với hai
tấm bia Hạ mã, đặt mốc ranh giới chiều ngang phía trước. Ngày xưa, bất kỳ ai,
dù là công hầu ai khanh tướng, dù là võng lọng hay ngựa xe, khi đi qua Văn Miếu
đều phải xuống xe và đi bộ từ tấm bia Hạ mã này. Khi sang tấm bia Hạ mã kia mới
được lên ngựa hay xe.Tứ trụ được xây bằng gạch, với hai trụ giữa được xây cao
hơn và có hình 2 con nghê chầu vào, được coi là vật linh thiêng, có khả năng
nhìn thấu suy nghĩ con người. Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng, tạo nên
công trình kiến trúc linh thiêng và độc đáo.
Di tích Đại
Trung Môn
Đi vào từ cổng chính của Văn Miếu Môn sẽ đến khu thứ nhất, được
gọi là khu Nhập đạo. Đi qua khu Nhập đạo là đến khu thứ 2 được gọi là Đại Trung
Môn. Trước đây, hai cổng tả môn và hữu môn ở phía trước, bằng Đại Trung môn,
Thánh Đức môn và Đại Tài môn ở phía sau. Tuy nhiên, sau khi bị quân Pháp tấn
công vào năm 1947, hiện nay 2 cổng chỉ còn lại một không gian với thảm cỏ và cây
xanh, tạo nên một không khí yên bình.
Bức tường ngang nối ba cửa vươn dài ra hai bên tạo ra một
khuôn viên vuông vức, khép kín bởi tường vây dọc bên ngoài, mở ra bằng Văn Miếu
môn. Cảnh đẹp tĩnh lặng và thanh nhã của “văn vật sở đô” được tạo nên bởi cây cỏ
và hai chiếc hồ chữ nhật nằm dọc theo khuôn viên này.
Cửa Đại Trung môn với kiểu dáng ấn tượng, được xây trên
nền gạch cao, mái lợp ngói mũi hài, và hai hàng cột hiên trước và sau, tạo nên
một không gian đẹp mắt. Biển nhỏ treo ở giữa cửa với ba chữ sơn then “Đại Trung
môn” làm tôn lên vẻ uy nghiêm của khu vực này.
Di tích
Khuê Văn Các
Khuê Văn Các, còn được sở hữu một cái
tên đầy mỹ miều là “gác vẻ đẹp của sao Khuê”, là một tuyệt tác kiến trúc độc
đáo, được xây dựng vào năm 1805 dưới thời Tổng trấn Nguyễn Văn Thành thuộc
triều Nguyễn. Khuê Văn Các được xây trên một nền vuông cân xứng với lát gạch
Bát Tràng, mỗi bề chiều dài 6,8 mét.
Kiểu dáng của Khuê Văn Các là một sự kết hợp giữa sự hài
hòa và tính độc đáo. Tầng dưới với bốn trụ gạch vuông, mỗi cạnh một mét, được
trang trí bằng hoa văn tinh tế. Tầng trên là kiến trúc gỗ sơn son thếp vàng,
tạo nên vẻ tao nhã và ấn tượng.
Sàn gỗ của Các được thiết kế với hai khoảng trống để bắc
thang lên gác. Các chi tiết như diềm gỗ chạm trổ, lan can gỗ và những chi tiết
trang trí khác đều thể hiện sự tỉ mỉ và tinh tế. Bốn mặt tường được bọc bằng
ván gỗ, mỗi mặt đều có một cửa tròn đẹp mắt, tượng trưng cho sao Khuê và tia
sáng của nó. Biển sơn son thiếp vàng với chữ “Khuê văn các” treo phía trước
cửa, tôn lên vẻ đẹp của nơi đây.
Giếng Thiên Quang hay còn được gọi là
Thiên Quang Tinh được xem là một tuyệt tác kiến trúc tại Khu di tích Văn Miếu
Quốc Tử Giám. Giếng được thiết kế với hình vuông độc đáo, được bao quanh bởi
hàng lan can. Do đó mà Giếng Thiên Quang được xem là hình mẫu tượng trưng cho
đất. Cùng với cửa tròn của gác Khuê Văn, tượng trưng cho bầu trời.
Giữa vẻ đẹp thanh nhã của Thiên Quang Tỉnh, là 82 tấm bia
đá khắc lên những câu chuyện về cuộc đời của những vị học giả kiệt xuất được đỗ
vào chức vị tiến sĩ những năm 1484 – 1780. Điểm đặc biệt của Giếng Thiên
Quang còn nằm ở con rùa đá có đế là một tấm bia tiến sĩ được khai quật vào năm
1976.
Khu
điện thờ tại Đại Thành Môn
Đại Thành Môn là một công trình kiến
trúc tuyệt đẹp, sở hữu phong cách thiết kế truyền thống, đậm chất phong kiến
xưa. Nơi đây được kết hợp từ 3 gian nhà lớn, với mái ngói che phủ. Điểm đặc
trưng của Đại Thành Môn là 2 cột hiên vững chãi, tô điểm cho sự uy nghiêm và
trang trọng tại nơi đây. Hướng qua Đại Thành Môn, chúng ta bước vào Đại Bái
Đường hay còn được biết đến là khu điện thờ, một không gian thờ cúng linh
thiêng và huyền bí.
Khu điện thờ là nơi chứa đựng những bảo vật quý giá, từ
những bức tranh cổ, cỗ hương đến những đôi hạc cổ và chiếc chuông lớn được đúc
từ năm Cảnh Hưng 1768. Đại Bái Đường là một nơi linh thiêng, được dùng để tổ
chức những nghi lễ long trọng trong kì tế tự xuân thu vào thời xưa.
Quốc
Tử Giám tại đền Khải Thánh
Đền
Khải Thánh Nằm trong cùng của
Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám là khu di tích đền Khải Thánh. Nơi đây là nơi
dùng để tôn thờ 2 vị phụ mẫu của Khổng Tử, là Thúc Lương Ngột và Nhan Thị.
Đền Khải Thánh đã trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử. Trước
đây, nơi này là khu cư xá lớn với hơn 150 gian phòng dành cho giám sinh. Do đó
mà nơi đây được tượng trưng cho sự thịnh vượng của quốc gia và là sự hiện diện
của tri thức. Tuy nhiên, vào năm 1946, thực dân Pháp đã cho bắn phá đền Khải
Thánh, khiến cho nơi đây bị phá hủy gần như hoàn toàn.
Sau này, với nỗ lực tu sửa của chính quyền mà đền Khải
Thánh vẫn còn động lại được đôi chút giá trị lịch sử tồn tại cho đến tận ngày
nay.
Nhà tiền đường và hậu đường
Nhà tiền đường và hậu đường là 2 công trình kiến trúc
hoàn toàn mới, được nhà nước ta cho xây dựng vào ngày 13/7/1999, nhằm sử dụng
để lưu giữ những hiện vật quý giá còn sót lại tại văn miếu quốc tử giám.
Nhà Tiền đường sở hữu 9 gian phòng, với 40 cột gỗ lim quý
hiếm có chiều cao lên đến 7m. Nơi đây là nơi thể hiện truyền thống tôn sư trọng
đạo và tổ chức các hoạt động nghệ thuật, văn hóa lớn.
Hậu đường với kiến trúc gồm 2 tầng. Tầng 1 gồm có 9 gian
phòng với 72 cột gỗ lim. Nơi đây là nơi để tôn vinh Danh sư Tư nghiệp Quốc Tử
Giám Chu Văn An và giới thiệu về lịch sử Văn Miếu Quốc Tử Giám đến với du
khách. Tầng 2 là nơi dùng để tôn thờ các danh nhân và các vị vua có công xây
dựng và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục nước nhà thời xưa như vua Lý Thánh
Tông, vua Lý Nhân Tông và vua Lê Thánh Tông. Ngoài ra còn có những người góp
phần quan trọng vào Nho Giáo thời xưa.
Giá vé tham quan văn miếu quốc tử giám
Hà Nội
Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám mở cửa vào các ngày
trong tuần. Tuy nhiên, tùy vào khí hậu từng mùa mà Văn Miếu sẽ có thời gian mở
cửa khác nhau. Vào mùa hè, Văn Miếu sẽ mở cửa từ 7:30 – 17:30, vào mùa đông sẽ
là từ 8:00 – 17:00.
Giá vé tham quan:
§Người lớn: 70,000VNĐ
§Học sinh, sinh viên: 30,000 VNĐ (cần thẻ học
sinh, sinh viên)
§Người khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi:
15,000 VNĐ (cần CMND/CCCD và là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên)
Kết luận
Qua bài viết trên, chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu tất tần
tật về lịch sử hình thành cũng như những công trình kiến trúc nổi tiếng tại Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám. Hãy luôn theo dõi F – Vivu để có thể đọc thêm
nhiều bài viết hữu ích Về Văn Miếu Quốc Tử Giam Nhé
TRUYỀN THỐNG XIN CHỮ TẠI VĂN MIẾU CỦA CÁC BẠN TRẺ MỖI MÙA THI LẤY MAY
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là công trình được xây dựng để dạy học và thờ kính Khổng Tử cùng những bậc hiền tài Nho học xưa. Đây là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa liên quan đến học hành, thi cử. Nhiều người tin việc "xin chữ" sẽ mang lại nhiều may mắn về con đường học hành, công danh.
Ngày đầu năm hoặc mùa thi cử đến bất kỳ di tích lịch sử văn hóa nào ở các thôn quê đều dễ dàng bắt gặp cảnh tượng quây quầnxin chữ. Đó là nét đẹp văn hóa mang ý nghĩa xã hội rộng lớn, thể hiện cho truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay.
Hình ảnh bạn nhỏ xin chữ cầu mong năm mới đạt được nhiều thành tích tốt trong học tập ở
Hồ Văn - Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Từ lâu phong tục xin chữ, câu đối đầu xuân đã trở thành nét đẹp văn hóa không thể thiếu trong những ngày đầu xuân mới tại Việt Nam. Đây là một nét đẹp văn hóa, là món quà mang ý nghĩa xã hội biểu hiện cho truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa của dân tộc Việt Nam ta.
Hình ảnh ông đồ già với bút lông, nghiên mực, giấy đỏ đang tập trung viết những nét chữ thanh thoát "như rồng múa phượng bay" không còn xa lạ với bất kì người Việt nào khi dịp xuân về.
Mỗi nét chữ như là một lời nhắn gửi của các thế hệ cha ông đối với thế hệ sau về việc gìn giữ thú chơi tao nhã, trí thông minh, sáng tạo, nét tài hoa trong mỗi con chữ. Xin chữ treo trong nhà đầu năm là một việc làm quan trọng với mỗi gia đình từ xa xưa, treo chữ gì trong nhà thể hiện bản sắc của mỗi gia đình, cũng là thể hiện những mong ước trong năm mới. Nó như một món ăn tinh thần mang đậm bản chất văn hóa của một đất nước hiếu học, coi trọng đạo thánh hiền mà chúng ta cần trân trọng và bảo tồn.
Văn Miếu Quốc Tử Giám, nằm giữa trung tâm Hà Nội, là một trong những địa điểm lịch sử, văn hóa quan trọng của Việt Nam. Trong không gian linh thiêng của nơi này, Cụ Rùa đã trở thành biểu tượng không thể thiếu, đánh dấu một sự tích độc đáo kể từ thời cổ đại. Trong bài luận văn này, chúng ta sẽ khám phá sự tích Cụ Rùa và vai trò quan trọng của nó tại Văn Miếu Quốc Tử Giám.
I. Sự Tích Cụ Rùa Văn Miếu - Dấu Chấm Hỏi Cho Sự Tò Mò Của Giới Trẻ Ngày Nay.
Nguyên Nhanh Cây Sứa và Cụ Rùa: Sự tích kể về việc Cụ Rùa giữ cây sứa quý giá, là một trong những nguyên nhân khiến Vua Lý Thánh Tông ghi công đồng loại trên mặt rùa. Sự kiện này thể hiện lòng tôn trọng đối với tri thức và giáo dục.
Tượng Trưng Về Sự Bền Bỉ: Cụ Rùa thường được xem như biểu tượng của sự bền bỉ, sự kiên nhẫn và sức mạnh kiên trì. Điều này gắn liền với tâm huyết của những người học trò, những người tới đây để cầu may mắn trong kỳ thi quan trọng.
Văn Miếu Quốc Tử Giám, nằm giữa trung tâm Hà Nội, là một trong những địa điểm lịch sử, văn hóa quan trọng của Việt Nam. Trong không gian linh thiêng của nơi này, Cụ Rùa đã trở thành biểu tượng không thể thiếu, đánh dấu một sự tích độc đáo kể từ thời cổ đại. Trong bài luận văn này, chúng ta sẽ khám phá sự tích Cụ Rùa và vai trò quan trọng của nó tại Văn Miếu Quốc Tử Giám.
II. Vai Trò Của Cụ Rùa Tại Văn Miếu Quốc Tử Giám
Linh Thiêng và Tâm Linh: Cụ Rùa trở thành một linh vật thiêng liêng, mang lại không khí tâm linh cho Văn Miếu. Người dân tin rằng việc cầu may mắn và thành công trong học vấn sẽ dễ dàng hơn khi họ có được sự ủng hộ của Cụ Rùa.
Nét Đẹp Nghệ Thuật: Ngoài vai trò tâm linh, hình ảnh Cụ Rùa còn được biểu tượng hóa trong nghệ thuật. Tượng rùa đá tinh xảo, được đặt tại các vị trí quan trọng, tạo nên một bức tranh tuyệt vời về nét đẹp văn hóa và nghệ thuật truyền thống Việt Nam.
III. Ý Nghĩa Và Tầm Quan Trọng
Gìn Giữ Văn Hóa: Sự tích Cụ Rùa gắn liền với việc gìn giữ và truyền thống văn hóa Việt Nam. Văn Miếu Quốc Tử Giám không chỉ là nơi lưu giữ tri thức mà còn là biểu tượng của sự kế thừa và giữ gìn giá trị văn hóa.
Tôn Vinh Tri Thức: Cụ Rùa tôn vinh tri thức, khuyến khích sự học hỏi và đầu tư vào giáo dục. Điều này phản ánh tầm quan trọng của tri thức trong xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh hiện đại khi giáo dục được coi là chìa khóa mở cánh cửa cho tương lai.
IV. Kết Luận
Sự tích Cụ Rùa tại Văn Miếu Quốc Tử Giám là một phần quan trọng của di sản văn hóa Việt Nam. Nó không chỉ là biểu tượng của sự may mắn và thành công trong học vấn mà còn là một phần của tâm hồn và tư duy của người Việt. Cụ Rùa, với ý nghĩa lâu dài và sâu sắc, không chỉ là một hiện vật lịch sử mà còn là nguồn cảm hứng và tự hào cho người dân Việt Nam.